Skip Ribbon Commands
Skip to main content

THEO NHỮNG MÙA CHIM

Bản Tàn nằm trong thung lũng nhỏ, xung quanh là những quả đồi nhấp nhô.

Ngày xưa các cụ kể rằng: “Con trai con gái trong làng lớn lên, việc dựng vợ gả chồng chỉ được thực hiện ở trong làng , cấm ai đi ra khỏi thung lũng này…”

Bây giờ thì khác hẳn. Thanh niên lớn lên đứa thì đi học đại học, đứa thì đi lao động xuất khẩu, đứa mèng nhất cũng đi công nhân Q , học nghề… Duyên số gặp đâu cưới đấy.

Riêng những mùa chim thì vẫn còn nguyên vẹn đó. Xuân hạ thì có tiếng chim Queng quý hót cho những quả tu hú chín mọng bên sườn đồi. Mùa thu, đông thì có con chim khảm khắc cứ bay từ cánh rừng phía đông sang phía tây, rồi lại bay vòng ngược lại, hót ngày đêm” Kham Kham …Khắc Khắc…” làm những ai có tâm trạng như bà Duẩn chỉ thêm nao lòng xót xa, nước mắt tự nhiên cứ chảy dài trên hai gò má gầy guộc của mình.

Minh họa: internet

Ban ngày bà vẫn gượng dậy ra đồng, theo bà con đi làm đường bê tông, làm “nông thôn mới”. Ông thôn trưởng bảo là nhà bà không phải góp tiền nữa, nhưng bà nghĩ như thế sao được, nông thôn mới là của chung, đường là đường chung, hàng ngày đi làm đồng bà vẫn phải đi trên con đường đó, kể cả khi bà có đi về với tổ tiên, dân làng cũng khiêng bà đi trên con đường đó cơ mà. Với lại bà là Mẹ Việt Nam anh hùng, Đảng và Nhà nước đã phong tặng cho bà cái danh hiệu cao quý đó, chồng con bà còn dám hiến dâng cho Tổ quốc, đóng một món tiền hiến dâng cho tập thể làm đường nông thôn mới thì có thấm là bao. Kệ, bà cứ nộp cho tập thể, kể cả cái đám ruộng bên cạnh đường nữa, bà cũng sẽ hiến nốt, để cho con đường thật to, thật rộng mà đi chứ. Ngày xưa eo hẹp, Đảng và nhà nước không hỗ trợ được đành phải chịu, bây giờ thì khác rồi, mình cứ góp, bà Duẩn nghĩ thế.

Trời tháng 11 âm lịch, những cơn gió lạnh khô cứ bổ sung liên tiếp hết đợt này đến đợt khác. Nhà bà Duẩn nghèo nên cứ co ro vậy mãi thành quen. Hôm nay đài lại báo có không khí lạnh đến, nhưng bà đã chịu quen rồi, quần áo bà chỉ có một hai bộ để thay, thằng cháu nhỏ của bà, hôm nọ mẹ nó đi chợ cố mua được một cái áo len với lại bà ngoại nó cho một cái nữa nên cũng tạm đủ mặc.

Hôm nay bà ra bãi nhổ ít cỏ đám nương đỗ sắp được thu hoạch, thỉnh thoảng bà lại phải ngẩng lê để vươn thở uốn éo, bộ xương của bà bây giờ quá tồi rồi, còn gì nữa, năm nay bà đã ngoại ngũ thập tuần, xương cốt lung lay hết cả, ở làng các bà cùng tuổi họ an nhàn nên bà nào bà nấy cứ phây phây, còn bà thì… Ôi cái số của bà nó như thế thì đành phải chịu chứ biết làm sao. Lúc trẻ bà cũng đâu có kém ai. Học hết lớp 7 bà định đi công nhân cầu đường, bà đã nộp hồ sơ. Rồi đùng một cái ông bố mất, thế là bà lại phải ở nhà vì lúc đó nhà thiếu nhân lực lao động, không ai đi làm để lấy công điểm với hợp tác xã. Ở xã bà cũng tham gia đủ các hoạt động của thôn bản, của xã. Nào là ủy viên ban chấp hành đoàn thanh niên kiêm Bí thư chi đoàn thôn, rồi ủy viên ban quản trị hợp tác xã kiêm Đội trưởng sản xuất. Bao nhiêu chàng trai ngó nghiêng bà, nhưng bà chỉ yêu mỗi anh Tình, vì anh đẹp trai lại nhã nhặn, khiêm tốn.

Hai người cưới nhau đước một tháng thì anh đi bộ đội vào Nam chiến đấu. Một năm sau cũng vào một ngày tháng chạp, những cơn gió lạnh thổi hun hút, ăn cơm tối xong, bà định tắt đèn đi ngủ, ông xã đội trưởng cùng hai dân quân gõ cửa nhà bà, bà giật mình chột dạ, vội ra mở cửa:

- Ông tìm cháu có việc gì vậy!

Ông xã đội trưởng hắng giọng mấy cái làm bà thêm sốt ruột, ông từ từ rút trong cặp ra tờ giấy báo tử.

- Ôi em ơi! Hôm nay bọn anh đến báo tin xấu cho nhà em, nhưng em phải thật bình tĩnh nhé, anh Tình nhà mình đã hy sinh anh dũng tại chiến trường Tây Nguyên rồi.

Thế là bà ngã lăn ra ngất đi, mười phút sau mới dần dần tỉnh lại. Cầm tờ giây báo tử ôm vào lòng khóc nức nở.

Sau đó một năm, lần lượt bố chồng rồi mẹ chồng cũng theo nhau về với tổ tiên, để lại cho bà căn nhà nhỏ liêu xiêu dột nát, bao nhiêu lần xã nhắc đi nhắc lại cho đội là phải hộ bà sửa lại căn nhà, nhưng ông đội trưởng cứ lần khân, vì ngày xưa bà từ chối lời tỏ tình của anh ta. Cho đến một hôm đích thân ông chủ nhiệm xuống đội ra lệnh cho anh ta , anh ta mới chịu hô hào bà con giúp bà sửa lại căn nhà. Nhưng hôm đó anh ta lại cáo có công việc phải đi vắng, chỉ cho đứa con nít đi thay. Căn nhà của bà Duẩn lâu lâu lại bị dột lúc thì xuống chõ ngủ, lúc thì xuống chỗ đun bếp. bà chỉ biết than :

- Ôi! Cái số tôi sao nó khổ thế này cơ chứ!

Ba năm sau bà lại phải đi bước nữa. Lần này bà phải kết duyên với môt thanh niên hơi nghễnh ngãng, nhưng đươc cái làm ăn chăm chỉ, chỉ tội bà lại phải chỉ bảo từng ly từng tí một mới xong. Rồi hai ông bà cũng sinh hạ được một người con trai kháu khỉnh, chắc là nó giống gien bà.

Dần dà lớn lên nó lại xin đi bộ đội, bà khuyên ngăn mãi mà nó đâu có nghe, nó bảo:

- Mẹ đừng có lo, thời buổi hòa bình rồi, với lại con đi bộ đội biên phòng thôi mà, vài năm sau con lại về với mẹ, lấy vợ và đẻ ba thằng cháu nội cho mẹ, mẹ tha hồ bế mỏi tay luôn.

Bà sốt ruột lắm, trông ngóng con từng ngày một. Đêm đêm nằm bà lại mơ thấy nó về, giật mình tỉnh dậy chẳng thấy con đâu, thế là bà lại thức trắng đêm luôn. Thế rồi ba năm rồi năm năm bà vẫn chưa thấy mặt cháu nội, bà làm đủ mọi cách, nào là cúng bái nối dây tơ hồng cho đến việc ai mách bảo các ông thầy lang mát tay bà đều đến cầu khẩn cả, thế mà mãi 10 năm sau thằng cu tí mới chịu thòi ra. Lúc đầu nó kháu khỉnh lắm, vậy mà 5 năm sau cái chân bên trái nó cứ teo đần, không phát triển cân đối với bên kia, thế là nó trở nên tập tễnh. Năm năm sau nữa bố nó được thăng quân hàm đại úy, những tưởng nhà bà sẽ được mỉm cười với thiên hạ, ai ngờ sau một lần truy bắt bọn buôn lậu ma túy, thằng con bà bị thương nặng, đơn vị đưa vào bệnh viện một tuần sau rồi hy sinh. Ôi sao ông trời cứ nhằm vào nhà bà mà diệt, làm cho đời bà không thể ngẩng mặt được với thiên hạ nữa. Các cụ ta có câu:” Mỉnh khỏ pọ cổn vài nhằng phít, mỉnh chàu kin phjac cút hăn van” (số nghèo vịn đít trâu còn trượt, số giàu ăn rau rớn thấy ngon) quả không sai. Thôi kiếp số của bà đã như vậy thì phải chịu chứ biết kêu ai. Ngày ngày bà cứ lầm lũi như vậy nuôi cháu, còn con mẹ cháu thì chốn sang “tàu”rồi chẳng biết làm gì đến hàng chục năm nay không có tin tức.

                     *

Vậy là nhà bà có hai bàn thờ liệt sỹ, một cái của ông chồng trước, một cái của thằng con chồng kế của bà.

Bà đã xác định rồi, đời bà đã khổ vậy chứ khổ nữa bà sẵn sàng chịu đựng, miễn là thằng cháu của bà được khỏe mạnh, ông chồng nghễnh ngãng của bà chăm chỉ làm ăn, không quậy phá là tốt rồi. Hôm nay ông chồng bà sang huyện bên dự đám cưới thằng cháu họ theo “lệnh” bà. Mùa đông lại đến, cũng là mùa của trai gái yêu nhau, cưới nhau là chuyện thường tình, mình nghèo ai chả biết, lì xì cho họ được bao nhiêu hay bấy nhiêu chứ nhiều người thông cảm họ bảo thôi bà không phải bỏ lì xì nữa, nhưng như thế làm sao được, ít nhiều bà cũng phải mừng hạnh phúc của các cháu chứ, gọi là có thôi.

Những cơn gió lạnh cứ thổi hun hút, hôm nay lại thêm những cơn mưa phùn lất phất nữa chứ, ông chồng bà chỉ mặc mỗi cái áo bông cũ kĩ chắc là rét lắm, bà thương hại ông quá nhưng vì nhà nghèo biết làm sao đươc, có thương cũng chỉ để trong lòng thôi.

Nửa đêm đang ngủ ngon, bỗng có tiếng gõ cửa, bà bật dậy:

- Ai đấy!

Không có tiếng trả lời. Bà nghĩ hay là mình nằm mơ nhỉ? Bà cất tiếng gọi lần nữa:

- Ai đấy! Vẫn im phăng phắc.

Bà tắt đèn đi ngủ. Vừa chợp mắt lại có tiếng gõ cửa, bà lại vùng dậy bật đèn, cầm cái đèn pin soi xung quanh nhà:

- Ai đấy! Ai đang đêm gõ cửa nhà tôi đấy!

Xung quanh vẫn lặng im , tịch mịch. Bà bỗng chột dạ: “thôi chắc là hồn thằng con bà về rồi”. Thế là bà vội châm đèn thắp hương khấn vái mong con phù hộ độ trì cho bà cháu làm ăn được xuôi chèo mát mái. Vậy là một đêm nữa bà lại chong matthức trắng đêm.

Sang đêm thứ hai, ông chồng bà vẫn chưa về. Cũng phải thôi, đã lâu không gặp nhau bây giờ cũng phải ngồi nghe các cụ hàn huyên chứ.

Mười giờ đêm, hai bà cháu lại tắt đèn đi ngủ. Trằn trọc mãi rồi bà cũng thiếp đi. Vừa chợp mắt một lúc bà lại nghe tiếng gõ cửa, bà bật dậy:

- Ai đấy, đang đêm ai gõ cửa vào nhà hai bà cháu góa này đấy!

Có tiếng đáp lại:

- Anh đây! Anh Tình đây!

- Làm gì còn anh Tình nào nữa, anh Tình đã chẳng hy sinh cách đây hơn bốn mươi năm rồi còn gì, anh có sống khôn chết thiêng thì phù hộ độ chì cho bà cháu em làm ăn được xuôi chèo mát mái nhé, em vẫn luôn thờ phụng anh hàng ngày đấy thôi.

Bà lại thắp hương cầu khấn, nước mắt lại chảy dài trên hai bên má.

- Ôi em Duẩn ơi, anh đây thật mà, em mở cửa cho anh đi.

Ba lần nghe tiếng khẩn khoản như thế, bà Duẩn đành rón rén ra mở của. Hai tay bà run lập cập, quả tim bà gần như sắp đặt ra ngoài lồng ngực đến nơi, đầu bà chếnh choáng , người sắp ngã lăn ra.        

Bà từ từ hé mở cánh cửa, người kia chệnh choạng bước vào, chân đi tập tễnh. Một tay ôm nạng gỗ, tay kia ôm chầm lấy bà, hai hàng nước mắt vừa chảy dàn dụa vừa than:

- Ôi em ơi, hôm nay anh gửi lại em tấm thân tàn này những ngày cuối đời. Nhiều đêm anh nghĩ: hay là mình thác ở chỗ nào cũng được, chêt rồi còn biết gì nữa đâu, nhưng rồi lại nghĩ lại: mình cũng có quê quán đàng hoàng cơ mà, đã chết thì phải về quê mà chết chứ. Hồn và thân xác phải ở bên cạnh ông bà tổ tiên của mình. Thế là anh quyết định về với em đây, nhờ em chăm sóc phần đời còn lại của anh. Bây giờ anh chẳng còn gì cả, ngoài bảy mươi rồi, chỉ như một khúc gỗ thôi.

Ông ta kể chuyện của mình:

- Hôm ấy tôi bị thương, cố hành quân đi theo sau, bị bọn thám báo bắt được, chúng “tùng xẻo” cái ấy của tôi đi rồi vứt xác ra đường. Hành động của chúng là có ý định cho tôi chết dọc đường hoặc cho hổ bắt đi ăn thịt. Cả ngày hôm sau tôi thoi thóp một mình, may mà đến chập tối có ông người dân tộc đi qua, thấy tôi như vậy liền cõng về nhà tìm thuốc thang chạy chữa. Từ đó vì xấu hổ nên không dám về quê, mấy chục năm qua tôi luôn sống vất vưởng nơi đất khách quê người.

Nghe ông kể vậy, vì nửa tin nửa ngờ, nên nhân lúc ông ngủ say, bà bảo cả ông chồng “khờ” của bà sờ xoạng xem cái ấy của ông còn hay mất. Lúc sau ông ra lắc đầu bảo với bà là không thấy đâu, bà mới tin là thật. Từ đó tình thương của cả hai ông bà dành cho ông Tình càng nhân lên gấp bội.

Rồi hai năm sau, ông Tình qua đời. Quan tài của ông được đưa về chỗ trang trọng nhất trong vườn rừng nhà ông bà Duẩn để tiện chăm sóc.

Đám tang của ông Tình được các ban ngành của xã, huyện và bà con nhân dân trong xã tiễn đưa một cách trịnh trọng, thương xót và cảm phục.

Đêm đêm bà Duẩn nằm nghe con chim khảm khắc cứ kêu suốt trên đồi vườn rừng nhà bà… “khảm kham…khăc khắc”./.

Tác giả:  LỤC VĂN NGỌ
Nguồn: